| Tin tức | Hướng dẫn hỗ trợ | Thủ thuật, học tập | KỸ NĂNG NGÔN NGỮ SƯ PHẠM VÀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN CHO SINH VIÊN
 
 Sách hay mỗi ngày 
 Thư viện số 

 Ảnh hoạt động 

  Trao quà và kết thúc hội nghị bạn đọc năm học 2013-2014

  Thầy cô chia sẻ kinh nghiệm trong hội nghị

     CBTT trình bày trong hội nghị

   TT tổ chức Hội nghị bạn đọc năm học 2013-2014. 

     SV tìm kiếm TL trên CSDL của TT

     SV tra cứu tủ mục lục

     TT tổ chức buổi “Hướng dẫn và hỗ trợ TL học tập

      TT tổ chức triển lãm sách “Kỷ niệm 121 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh”

     TT tổ chức "Hội nghị bạn đọc

     Chụp ảnh lưu niệm tại TT

     Giám đốc TT giới thiệu CSVC của TT

      Ban dự án Phần Lan và Ban giám hiệu nhà trường thăm TT

     Sinh viên thực hành kỹ năng tìm kiếm thông tin 

        Cán bộ TT hướng dẫn SV kỹ năng tìm kiếm thông tin

     Hội thảo về "Kỹ năng tìm kiếm thông tin trên web của TT và trên internet"

     SV tìm kiếm thông tin và học tập tại Trung tâm 

     Giám đốc Trung tâm phát biểu.

 

     Phát biểu của Hội trưởng hội khuyến học trường.

     Hiệu trưởng phát biểu

     Hội khuyến học CĐSP trao tặng máy tính để SV học tập  nghiên cứu tại TTHTHT-Thư viện.

     CBTT giới thiệu sơ đồ chỉ dẫn và hướng dẫn tra cứu tài liệu, sử dụng tài nguyên  TT trong buổi hướng dẫn SV K17 sử dụng thư viện.  

    SV K17 các ngành đào tạo tham gia buổi hướng dẫn sử dụng thư viện tại Trung tâm HTHT-Thư viện.

 Danh ngôn  
 

 
Tin tức » Hướng dẫn hỗ trợ » Thủ thuật, học tập 27.01.2022 06:43
KỸ NĂNG NGÔN NGỮ SƯ PHẠM VÀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN CHO SINH VIÊN
06.02.2012 08:43

1. GIỚI THIỆU
Ngôn ngữ - nói và viết là phương tiện xã hội để nhận thức, truyền đạt và giao tiếp, là sự kết tinh những tinh hoa trí tuệ của con người. Ngôn ngữ là phương tiện lưu trữ và truyền bá kinh nghiệm sống, chiến đấu, sản xuất cũng như nền văn hoá của xã hội loài người từ bao đời nay. Nhìn từ góc độ giáo dục, mọi tính ưu việt của ngôn ngữ đều thông qua con đường tối ưu là dạy học.

Trong bài viết này, người viết không có tham vọng nói tất cả những gì mà ngôn ngữ đã thể hiện trong xã hội mà chỉ muốn đề cập đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ của người giáo viên. Bởi vì cho dù tri thức của người giáo viên (GV) có uyên thâm đến đâu mà khả năng sử dụng ngôn ngữ (“kĩ năng ngôn ngữ sư phạm” - KNNNSP) kém thì việc chuyển tải tri thức và kĩ năng sẽ không đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học. Vì vậy, KNNNSP chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong hệ thống các kỹ năng sư phạm đến mức “không có ngôn ngữ không có nghề dạy học”.

2. NỘI DUNG

2.1. Kỹ năng ngôn ngữ sư phạm
2.1.1. Khái niệm chung

KNNNSP là kỹ năng tri giác ngôn ngữ, hiểu ngôn ngữ và biểu đạt ngôn ngữ trong quá trình dạy học và giáo dục.

Nói một cách cụ thể hơn, KNNNSP là khả năng của một người có thể lựa chọn từ ngữ phù hợp với nội dung và mức độ nói hoặc viết đồng thời có khả năng hiểu tốt các nội dung trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Không những thế, người đó có thể sắp xếp các từ thành những câu nói và viết đủ nghĩa, sáng sủa, lôgíc và dễ hiểu trong các hoạt động sư phạm (soạn bài, giảng bài, giải thích, giáo dục học sinh). Có thể những người không làm công tác giáo dục cũng có kĩ năng này, song đa phần các kĩ năng này thường có và cần phải có ở người GV. 

Người GV chỉ có được kỹ năng này khi họ vững chuyên môn (để sử dụng từ ngữ chuyên môn đúng), biết nghe và đọc (để có nhiều từ ngữ và cách sử dụng từ ngữ, đặt câu đúng và hay), có sự quan sát tinh tế (để học tập cách biểu đạt ngôn ngữ), biết tự phát hiện lỗi của mình và chịu khó rèn luyện (nói và viết).

Ngôn ngữ của GV được đánh giá ở hai nhóm phẩm chất: nhóm 1 là tính chính xác của ngôn ngữ; nhóm 2 là tính hữu hiệu của ngôn ngữ.

Các phẩm chất ở nhóm 1 bao gồm sự chính xác về mặt lựa chọn và sử dụng từ vựng đúng, phù hợp và hay, phát âm chuẩn, có ngữ điệu, sự nhấn mạnh trọng âm, có văn phong trong nói và viết, đặt câu đúng, không phi lôgíc. Đối nghịch với các phẩm chất này là việc dùng thừa chữ, thừa câu, sính ngôn ngữ xa lạ với việc dạy học và giáo dục (quá cổ, thô lỗ, từ lóng, dùng tiếng nước ngoài hoặc phương ngữ không cần thiết), câu nói, viết vi phạm lôgíc, rối rắm,... Có những đối nghịch trên không phải do GV thiếu hiểu biết mà là do thiếu thận trọng, thiếu tự kiểm tra khi nói và viết, đôi khi do bắt chước một cách vô thức mà quên đi ranh giới giữa môi trường sư phạm và đời thường. Cũng có thể người GV dùng từ sai mà không hề hay biết vì không hiểu hết nghĩa của chúng (những từ gốc Hán, sử dụng trực tiếp hoặc qua phiên âm từ nước ngoài,…).

Các phẩm chất ở nhóm 2 bao gồm ở nội dung nói và viết. Trước tiên cần khẳng định rằng các phẩm chất trong nhóm 1 “chính xác” là cơ sở rất quan trọng cho nhóm thứ hai. Sử dụng ngôn ngữ thiếu chính xác sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hữu hiệu của ngôn ngữ. Từ ngữ không đúng, câu nói/viết phi lôgíc, người nghe (đọc) không thể hiểu tác giả. Tính hữu hiệu còn thể hiện ở câu nói/viết đơn giản, sáng sủa và đặc biệt là có hướng đích rõ ràng. Đối nghịch với các phẩm chất này là câu nói/viết phi lôgíc, sáo rỗng, hoa mĩ quá trớn, không cần thiết. 

2.1.2. Phân loại KNNNSP

- Kỹ năng ngôn ngữ nói: Ngôn ngữ nói là phương tiện để mã hoá các thông tin (những suy nghĩ, tri thức…) trong đầu con người (GV dạy học,  người học hoạt động chẳng hạn) khi chuyển tải ra ngoài bằng lời (giao tiếp, truyền đạt). Trong dạy học, những thông tin từ GV sẽ giúp cho HS hiểu đúng ý tưởng của GV, nội dung khoa học, thực hiện chính xác các yêu cầu của GV, lưu trữ các thông tin từ GV, giao tiếp giữa người học với nhau. Ngoài tính chính xác về từ ngữ, ngôn ngữ nói của GV còn cần đạt đến tính nghệ thuật về mặt ngữ âm, cấu trúc câu sao cho lời nói được biểu đạt ngắn gọn, trong sáng, súc tích, giàu hình ảnh (kể cả tình cảm), dễ hiểu và mang tính thuyết phục cao. Sử dụng đúng và phù hợp các tính chất vật lí của lời nói như cường độ, cao độ, tốc độ nói cũng là một nghệ thuật nói.

- Kỹ năng ngôn ngữ viết: Đối với người GV, kỹ năng này cũng hết sức cần, chủ yếu thể hiện ở soạn bài giảng, giáo án và viết bảng. Ngôn ngữ viết không những cần có yêu cầu như đã nói ở trên để thể hiện trong các giáo án, đặc biệt là các câu hỏi, yêu cầu HS hoạt động sao cho rõ ràng, hướng đích và đơn trị,… mà còn cần có yêu cầu khả năng lựa chọn từ ngữ để viết tóm tắt những nội dung giảng bài lên bảng, tránh việc viết quá nhiều trên bảng.

2.2. Qui trình hình thành KNNNSP trong môn Tâm lí học

Qua thực tế giảng dạy môn Tâm lý học cho sinh viên sư phạm (SVSP), người nghiên cứu nhận thấy lỗi dùng từ, phát âm, sử dụng ngữ pháp,... của họ khá phổ biến. Đó có thể là lí do khiến họ ít năng động, ít chịu khó phát biểu, sợ lên bảng. Thế là cái vòng luẩn quẩn diễn ra: vì nói/viết kém nên sợ nói/viết, vì sợ như vậy nên ít hoạt động và KNNNSP không được cải thiện và lại tiếp tục lười nói/viết... Qua những năm dạy môn Tâm lí học, người nghiên cứu đã đề ra và thử nghiệm một qui trình dưới đây vừa kích thích hứng thú học tập Tâm lý học của SVSP vừa rèn được kỹ năng ngôn ngữ sư phạm cho họ.

Bước 1: Hướng dẫn lý thuyết

GV cung cấp đầy đủ những tri thức về KNNNSP, giúp SV hiểu mục đích, nắm được ý nghĩa, tầm quan trọng, cách thức thực hiện và trình tự thao tác của kỹ năng này.

Bước 2: Làm mẫu

GV thao tác mẫu, SV quan sát, kết hợp với nghe GV giảng giải các thao tác:

 - SV quan sát trình tự các thao tác một cách chuẩn xác rõ ràng;

 - SV phải nắm được yêu cầu của kỹ năng cần đạt tới: chính xác, lưu loát, truyền cảm, đủ to rõ,…

Bước 3: SV đặt kế hoạch thực hiện dựa theo mẫu

 - SV hoạch định thời gian, điều kiện thực hiện từng yêu cầu về ngôn ngữ và ngôn ngữ sư phạm;
 - SV chuẩn bị các dụng cụ để thực hành;
 - SV chuẩn bị cách thức tự kiểm tra trình độ các yêu cầu ngôn ngữ theo các mức độ đã nêu.

Bước 4: Thực hành

Sau khi vạch cho mình kế hoạch, SV tiến hành luyện tập nhiều lần đến mức thành thạo. Cần kết hợp KNNNSP với kỹ năng quan sát, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục,…

Bước 5: Tự kiểm tra

SV thực hiện xong việc luyện tập thực hành , sau đó tự so sánh với các thao tác mẫu của GV với kiến thức về KNNNSP mà mình đã lĩnh hội được, xem đã thực hiện được đến đâu, cái gì được, cái gì chưa được. Quá trình thực hiện KNNNSP có đạt kết quả cao hay không là tuỳ thuộc vào bước này. Ngược lại, nếu đánh giá không đúng thì kết quả của kỹ năng ngôn ngữ sư phạm sẽ không cao trong hoạt động dạy học và giáo dục.

Bước 6: Thao tác sáng tạo

SV thực hiện KNNNSP đồng thời cải tiến độc lập, sáng tạo giải quyết kỹ năng này một cách mềm dẻo, linh hoạt trong mọi hoàn cảnh tình huống mới.

Tóm lại, thực chất của qui trình hình thành kỹ năng ngôn ngữ sư phạm là: hiểu cách làm - làm thử - làm thành thạo.

2.3. Một số biện pháp rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ cho SVSP

2.3.1. Những mục tiêu về chất lượng ngôn ngữ sư phạm cần rèn luyện cho SVSP

2.3.1.1. Lựa chọn từ ngữ: 

- Chính xác về chuyên môn, phù hợp ngữ cảnh và đối tượng;

- Giản dị, dễ hiểu;

- Sử dụng chính xác và hợp lôgíc các liên từ (nếu, và, hoặc, thì, từ đó, ..);

- Tránh: các từ ít thông dụng, các từ phương ngữ “hiếm”, các từ lóng, phi sư phạm...

2.3.1.2. Biểu đạt từ ngữ thành bài nói, bài viết:

- Đúng ngữ pháp, hợp lôgíc, trong sáng;

- Bài nói, bài viết phải có hướng đích;

- Cần hình tượng, ví von nhưng không hô hào suông, sáo rỗng;

- Cường độ, cao độ trong ngôn ngữ nói cần phù hợp đối tượng, nội dung và ngữ cảnh;

- Kĩ năng viết bảng: biết chọn từ đại diện, từ khoá vừa đủ biểu đạt nội dung;

- Không nói ngọng: biết phân biệt l và n; tr và ch - người phía Bắc; không nói r thành g - người phía Nam…; không sai chính tả khi viết.

“Từ là sự tác động mạnh mẽ nhất đến trái tim, nó có thể trở nên mềm mại như bông hoa đang nở và nước thần, chuyển từ niềm tin và sự đôn hậu… Một từ thông minh hiền hoà tạo ra niềm vui, một từ ngu xuẩn hay tàn ác, không suy nghĩ, không lịch sự đem lại tai họa, từ đó có thể giết chết niềm tin và làm giảm sức mạnh của tâm hồn. Do đó, việc lựa chọn từ ngữ một cách có văn hoá, có giáo dục quan trọng biết chừng nào trong giao tiếp” [6].

2.3.2. Những cơ hội và biện pháp rèn luyện KNNNSP cho SVSP

Khi dạy học, nói chung, khi thực hiện các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực, nói riêng, chúng ta có rất nhiều cơ hội để rèn luyện ngôn ngữ nói và viết cho SVSP. Đó là:

 - SV phát biểu trước lớp, trao đổi nhóm;

 - SV lên bảng viết hoặc làm bài tập;

 - SV tham khảo tài liệu;

 - SV báo cáo chuyên đề, thảo luận trong các buổi xêmina;

 - SV tập giảng;

 - SV tổ chức các câu lạc bộ và các sinh hoạt khác;

 - SV làm bài tập môn học, khoá luận, luận văn.

Cơ hội để SV thể hiện ngôn ngữ nói và viết của mình thì nhiều song vấn đề là người GV ở trường sư phạm có tận dụng một cách có ý thức các cơ hội ấy để rèn luyện KNNNSP cho họ hay không. Cho nên phương châm rèn luyện KNNNSP cho SVSP mà mỗi GV cần hướng tới là:

- Gương mẫu trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết bài giảng hay giáo trình, khi giảng bài, khi viết bảng. Điều này cần có ở mọi GV trước khi nói đến việc tổ chức hoạt động, sửa lỗi cho SV;

- Tăng cường cho SV hoạt động trong lớp (phát biểu, trao đổi, lên bảng viết, viết dàn bài trước khi nói,...). Mỗi lần như vậy là dịp uốn nắn lại cách nói, sử dụng từ, cách viết cho SV và cần làm thường xuyên, với mọi SV. Cần chú ý rằng, điều này không chỉ dành cho GV các môn nghiệp vụ sư phạm mà là cho mọi GV khi đứng lớp với SVSP;

- Tăng cường giới thiệu tài liệu để SV tham khảo. Nhớ lưu ý được cho SV cách sử

- Tổ chức nhiều các hoạt động ngoại khoá: thi hùng biện, câu lạc bộ;

- Cơ hội để rèn luyện toàn diện về việc sử dụng ngôn ngữ cho SVSP là các giờ tập giảng. SV thể hiện ngôn ngữ viết (soạn giáo án, viết bảng), ngôn ngữ nói (khi giảng và bình giảng) còn rất nhiều lỗi. Nếu GV hướng dẫn tập giảng chịu khó đọc giáo án, lắng nghe SV giảng, giảng mẫu trước SV (chỉ nói riêng về mặt ngôn ngữ) thì có thể cải thiện rõ rệt KNNNSP cho SV trước khi đến Trường phổ thông;

- Bài tập môn học, luận văn, khoá luận cũng là cơ hội rất tích cực để uốn nắn, rèn luyện KNNNSP cho SVSP.

3. KẾT LUẬN

Có thể nói, tri thức nếu là nguyên liệu để tạo nên nội dung bài giảng của GV thì ngôn ngữ chính là công cụ, phương tiện cơ bản để chế biến, truyền tải tri thức tới HS. Ngôn ngữ diễn đạt phong phú, chính xác, diễn cảm có ý nghĩa đặc biệt cho chất lượng truyền tải ấy, bởi ngôn ngữ của GV có tính định hướng (ngôn ngữ giao tiếp), nó liên quan đến mức độ tri giác của người nghe (điểm này khác với ngôn ngữ thông thường).

Do ngôn ngữ có tính quan trọng trong quá trình giảng dạy của GV nên cần phải luyện tập ngôn ngữ sao cho đạt hiệu quả nhất trong quá trình giảng dạy.

 

 



Phạm Thị Trinh (Theo http://ioer.edu.vn)



Gửi qua YM

Những bản tin khác:



Lên đầu trang
 ĐĂNG NHẬP 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ

 Dịch vụ thư viện 


 Học trò...cười 


 Tìm kiếm 
Trang chủ    ¤   Kho tài nguyên    ¤   Rss    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Thăm dò dư luận

Thời gian mở trang: 0.795 giây. Số lần truy cập CSDL: 10
Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet v2.0+ - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.